Đào thải tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong cơ thể

Thuốc bảo vệ thực vật gây hại cho sức khỏe như thế nào?

Các loại thuốc trừ sâu đều có tính độc cao. Trong quá trình sử dụng, một lượng thuốc nào đó có thể đi vào trong thân cây, quả, hoặc dính bám chặt trên lá, quả. Người và động vật ăn phải các loại nông sản này có thể bị ngộ độc tức thời đến chết, hoặc nhiễm độc nhẹ, từ từ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, có thể gây suy gan, suy thận, là mầm mống của các căn bệnh nguy hiểm như ung thư.

Một số loại thuốc trừ sâu có tính năng hoá học ổn định, khó phân huỷ nên sẽ tích luỹ trong môi trường. Sau nhiều lần sử dụng, lượng tích luỹ này có thể cao đến mức gây độc cho đất, nước, không khí và con người. Do thuốc tồn đọng lâu không phân huỷ, nên có thể theo nước và gió phát tán tới các vùng khác, theo các loài sinh vật đi khắp mọi nơi, gián tiếp ảnh hưởng đến những người sống xa khu canh tác.

Ai có thể bị nhiễm thuốc bảo vệ thực vật trong cơ thể?

Theo các chuyên gia, việc nhiễm hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật trong cơ thể xảy ra thông qua đường không khí, nguồn nước hay qua đường thực phẩm có tồn dư thuốc bảo vệ thực vật. Ngay cả, chỉ tiếp xúc qua da hoặc niêm mạc các sản phẩm rau, hoa, quả tồn dư thuốc trừ sâu cũng sẽ gây hại cho sức khỏe. Do vậy, không chỉ có những người nông dân trực tiếp sản xuất tại ruộng đồng có nguy cơ cao bị nhiễm thuốc bảo vệ thực vật, mà cả những người sống ở đô thị cũng có nguy cơ tồn dư các loại hóa chất trong người.

Hạn chế thuốc bảo vệ thực vật vào cơ thể bằng cách nào?

Bên cạnh việc lựa chọn thực phẩm sạch, thì việc thải độc là vô cùng quan trọng. Một số bí quyết từ chuyên gia của thương hiệu Aroma sau đây sẽ vô cùng hữu ích cho tất cả mọi người dù là trực tiếp hay gián tiếp bị nhiễm thuốc bảo vệ thực vật trong cơ thể.

Thực hiện xông hơi thảo mộc khô, ngâm chân bằng muối thảo mộc

Theo Y học cổ truyền, xông hơi và ngâm chân bằng nước ấm là một phương pháp chữa bệnh và giải độc cơ thể mang lại hiệu quả cao. Hơi nước chứa tinh chất từ thảo mộc bốc lên có tác dụng làm giãn nở mạch máu, kích thích lưu thông khí huyết và thúc đẩy giãn nở lỗ chân lông giúp cho việc đào thải hàn khí ra ngoài theo tuyến mồ hôi. Trong thành phần thảo mộc khô hoặc muối thảo mộc của Aroma có chứa hương thảo, bưởi và chanh, oải hương ... hỗ trợ đào thải độc tố tích tụ qua tuyến mồ hôi hoặc qua lòng bàn chân, giúp cho cơ thể hạn chế phơi nhiễm lượng khí và hóa chất từ thuốc trừ sâu tích lũy đã lâu ngày.

Xoa bóp bằng dầu hạt Carot hoang

Hạt cà rốt hoang là loại cây sống các vùng đồi châu u, chứa caroten, beta và chất tiền vitamine A tự nhiên có tác dụng chống các tế bào gốc tự do trong cơ thể. Việc xoa bóp hạt cà rốt hoang mỗi ngày không những giúp đào thải lượng thuốc trừ sâu mà còn chống nhăn da, sáng mắt và chống mệt mỏi cho cơ thể.

Rửa mặt bằng xà phòng tinh dầu sáng và tối mỗi ngày

Trên cơ thể, da mặt là nơi trực tiếp tiếp xúc với không khí, khói bụi. Tuy nhiên, không ai có thể đảm bảo rằng không khí này là vô trùng và an toàn. Từ kết quả xét nghiệm của Viện Sức khỏe nghề nghiệp & Môi Trường cho thấy, những người nhiễm tồn dư thuốc bảo vệ thực vật đều không làm nghề nông nghiệp mà họ chủ yếu sống trong các thành phố lớn. Do vậy, việc rửa mặt thường xuyên sẽ giúp loại bỏ các chất độc hai trên bề mặt da, loại bỏ hoàn toàn nguy cơ các chất này sẽ ngấm sâu vào trong cơ thể. Aroma có một số loại xà phòng tinh dầu làm sạch sâu bề mặt da nhưng vẫn ẩm mịn như xà phòng hạt cà rốt & màng gấc Momochino, sả gừng cold & tamanu, cúc nghệ Turmeric…

Massage bảo vệ da mặt bằng tinh dầu hạt Carrot hoang, cúc trường sinh

Làn da được coi là lớp rào chắn đầu tiên, ngăn các chất độc hại đi vào cơ thể. Bởi vậy, giữ cho làn da khỏe mạnh cũng như trang bị cho làn da lớp màng bảo vệ được coi là giải pháp toàn diện hạn chế sự xâm nhập của các hóa chất từ ngoài không khí. Theo các chuyên gia Aroma, việc thoa một lớp tinh dầu lên da ngoài công dụng chăm sóc da thì còn có công dụng là một lớp màng vô hình bảo vệ da tránh khỏi những tác nhân gây hại. Cùng với thao tác massage sẽ giúp thành phần carotene thẩm thấu vào da, hỗ trợ đào thải thuốc trừ sâu trong cơ thể.

Uống nước chanh tươi pha loãng mỗi ngày

Theo các chuyên gia nghiên cứu khoa học, chanh là một loại trái cây tốt cho quá trình thanh lọc cơ thể. Các chất dinh dưỡng dồi dào trong nước cốt chanh có thể giúp loại bỏ độc tố và thúc đẩy hệ tiêu hóa, hỗ trợ thận hoạt động hiệu quả hơn, làm sạch phổi. Trong đó, chất flavonoit có trong chanh có tính chống oxy hóa cao, có thể chống lại bệnh suy thoái não.

Cách pha chuẩn: 1 lít nước + 1/2 trái chanh, để cả vỏ chanh vào uống cùng.

Một lợi ích dễ nhận thấy nữa khi bạn áp dụng đều đặn các giải pháp trên đó là bạn sẽ có một tinh thần dễ tập trung hơn, nhờ đó, hiệu quả công việc sẽ cao hơn. Đặc biệt, bạn không còn nỗi lo bị phơi nhiễm dư lượng thuốc trừ sâu trong cơ thể, nguyên nhân dẫn đến các loại bệnh nguy hiểm.

Bạn cũng yên tâm sử dụng tinh dầu Hạt cà rốt hoang Carrot Seed của thương hiệu Aroma bởi vì sản phẩm được nhập khẩu từ Pháp, có chứng nhận của tổ chức quốc tế Kosher tại Anh.

Tham khảo thêm thông tin tại www.greenaroma.vn

Cách sờ nắn phát hiện sớm ung thư vú

Nguyễn Thị Lệ (Hà Nội)

Ung thư vú là loại ung thư chiếm tỷ lệ cao các ca ung thư ở phụ nữ. 80-90% bệnh nhân ung thư vú phát hiện có khối u, khi ở giai đoạn 0-1 hoàn toàn có thể dùng tay sờ nắn để phát hiện.

Trước tiên nên quan sát các dấu hiệu cảnh báo sớm như: Núm vú bị tụt sâu vào trong, cứng, dùng tay kéo cũng không được. Khi ngực xuất hiện khối u sẽ phá vỡ cấu trúc da và tạo nên những nếp nhăn ở bên ngoài bề mặt vú. Viêm da vùng quanh vú khiến da đỏ, sần sùi, phù dưới dạng da cam. Hạch ở nách: nếu có một khối u hoặc vết sưng đau dưới cánh tay kéo dài trong một tuần không rõ nguyên nhân, đó có thể là dấu hiệu ban đầu của ung thư vú.

Cách sờ nắn phát hiện sớm ung thư vú: Đứng thẳng đưa 1 tay lên đầu, dùng 3 ngón tay trỏ, giữa, áp út của tay còn lại để xoa nắn vú, bắt đầu từ trong quầng vú, vừa ấn nhẹ vừa di chuyển đều ra ngoài theo đường xoắn ốc hoặc thẳng hàng từ trên xuống dưới. Tiếp tục đưa tay di chuyển, ấn nhẹ lên vùng hõm nách xem có hạch hoặc bất thường gì không. Sau đó nắn nhẹ núm vú xem có chảy dịch bất thường không.

Khi phát hiện có những bất thường cần đến ngay các cơ sở y tế khám để xác định chính xác nhất. Từ tuổi 20, phụ nữ nên tự kiểm tra vú mỗi tháng 1 lần, ngay sau khi hết chu kỳ kinh nguyệt. Ngoài ra từ 40 trở lên, nên chụp Xquang tuyến vú mỗi năm 1-2 lần.

BS. Thanh Trà

Tác dụng phụ không mong muốn của men tiêu hóa

Những ai muốn tăng cường hệ tiêu hóa của mình đặc biệt là trẻ em đều có thể uống men tiêu hóa nhưng không nên quá lạm dụng. Một số trường hợp dùng sẽ có hại:

Khi trẻ bị đau dạ dày như tăng tiết axit dạ dày, viêm loét dạ dày, tụy. Những bệnh này gây dư thừa một số loại enzym tiêu hóa nên nếu bổ sung thêm men tiêu hóa chỉ làm tình hình thêm trầm trọng.

Khi trẻ biếng ăn cha mẹ không nên lạm dụng men tiêu hóa mà cần tham khảo ý kiến thầy thuốc chuyên khoa.

Lúc trẻ đang đói, dạ dày trống rỗng trong khi lượng enzym tăng sẽ gây hại cho hệ tiêu hóa, khi sử dụng men tiêu hóa dẫn đến viêm loét dạ dày.

Phân sống, tiêu chảy nhưng có thêm triệu chứng tiêu chảy, phân có máu hoặc kèm nôn ra máu.

Việc lạm dụng men tiêu hóa sẽ dẫn đến trẻ bị phụ thuộc men tiêu hóa: khi không có men tiêu hóa trẻ sẽ không ăn.

Việc dùng men tiêu hóa kéo dài không những không thu được lợi ích như mong muốn mà còn làm thay đổi chức năng cơ quan tiêu hóa theo hướng rất xấu. Trong quá trình sinh tồn, cơ thể luôn tự điều chỉnh để phát triển tối đa những phần cần thiết và hạn chế dần những phần không cần thiết. Hành động uống men tiêu hóa kéo dài sẽ tức khắc tác động vào các cơ quan và bộ phận tiết men, làm các cơ quan này giảm tiết dịch tiêu hóa và mất chức năng.

Bởi vậy, các bậc phụ huynh cần lưu ý, khi trẻ lười ăn, cần tìm nguyên nhân để điều trị, có thể do trẻ thiếu các chất, muối khoáng, vitamin kéo dài. Nếu thực sự là do tiêu hóa, thì phải xem trẻ thiếu men gì để bổ sung cho phù hợp và chỉ dùng trong 7-10 ngày. Sau đó, khi trẻ ăn tốt hơn, hệ thống tiêu hóa của cơ thể lại tự tiết ra các men tiêu hóa thì nên dừng uống. Tuy men tiêu hóa không gây ảnh hưởng đến tính mạng nhưng không nên lạm dụng, bởi dùng kéo dài sẽ khiến trẻ bị phụ thuộc, khi không có men tiêu hóa trẻ sẽ không ăn, các tuyến tiêu hóa bị ức chế, giảm chức năng bài tiết và sẽ bị teo nhỏ.

PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sáng

Có nên cắt amidan khi đang mang thai?

Em bị viêm amidan nặng, hiện em đang mang thai được 6 tháng. Xin hỏi bác sĩ trường hợp của em nên điều trị thế nào để không ảnh hưởng đến thai?

Nguyễn Thị Hoà(hoanguyen_@gmail.com)

Viêm amidan là bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi. Trên lâm sàng có thể gặp các thể: viêm amidan cấp, viêm mạn và viêm hốc mủ, áp-xe amidan... Khi bị viêm amidan cấp, người bệnh thường bị sốt cao 39-40oc, đau họng, khó nuốt, hôi miệng…Việc điều trị bao gồm thuốc giảm đau, chống viêm và kháng sinh, kết hợp hằng ngày súc miệng nước sát khuẩn họng (nước muối loãng). Nếu điều trị nội khoa không kết quả hoặc gây áp-xe amidan thì cần can thiệp phẫu thuật. Tuy nhiên, không phải cứ thấy viêm amidan là cắt mà thường chỉ định cắt khi mỗi năm viêm tái đi tái lại 4-5 lần. Cũng cần nhớ là cắt amidan không có nghĩa là sẽ hết viêm đau họng. Trường hợp của bạn nếu có chỉ định cắt không thể trì hoãn thì bạn nên tuân thủ chỉ định của bác sĩ. Hiện nay, cắt amidan nội soi thuận lợi hơn nhiều, chỉ cần nằm viện trong ngày. Việc dùng thuốc điều trị viêm amidan hay sau phẫu thuật cắt là kháng sinh, kháng viêm, chống phù nề có thể qua nhau thai sang con nên cần thận trọng lựa chọn những nhóm kháng sinh được phép dùng khi mang thai là được (bạn nên trao đổi với bác sĩ để lựa chọn). Tốt nhất bạn nên đi khám chuyên khoa tai - mũi - họng để bác sĩ tư vấn cụ thể có nhất thiết cắt luôn hay điều trị nội khoa bạn nhé.

BS. Hoàng Văn Thái

Trẻ biếng ăn có nên bổ sung men vi sinh?

Tôi có nên nghe theo chị ấy không?

Nguyễn Thúy Hường(Hà Nội)

Đây là câu hỏi không phải chỉ riêng trường hợp của chị, mà tôi thường nhận được mỗi khi phụ huynh đưa con đến khám bệnh. Tuy nhiên, câu trả lời của tôi dành cho hầu hết phụ huynh tại phòng khám của tôi là không cần thiết.

Bởi vì chúng ta cần phải hiểu bản chất của men vi sinh là tập hợp các vi sinh vật có lợi ở đường ruột. Trên thị trường có nhiều loại men vi sinh khác nhau. Nhưng tôi tạm chia làm 2 loại: men vi sinh đơn thuần (ví dụ enterogeminal, normagut…) và men vi sinh phối hợp thêm các vitamin, chất khoáng (ví dụ bio-acimine…).

Khi chúng ta bổ sung các lợi khuẩn đường ruột thì bản thân các lợi khuẩn này có khả năng sinh vitamin B1, mà vitamin B1 thì kích thích thèm ăn. Các chất phối hợp thêm trong nhóm men thứ 2 mà tôi đề cập thường là vitamin nhóm B, kẽm, lysine... những chất này cũng giúp trẻ thèm ăn. Do đó, việc bổ sung men vi sinh kể cả loại đơn thuần hay phối hợp đều có khả năng đem lại một chút lợi ích cho việc ăn uống của trẻ.

Không nên bổ sung men vi sinh cho trẻ trong thời gian dài.

Không nên bổ sung men vi sinh cho trẻ trong thời gian dài.

Tuy nhiên, lợi ích đó là không nhiều và ngắn hạn, chỉ trong vài ngày hoặc một đến hai tuần là cùng. Vì vậy, ngoài những chỉ định y khoa cần bổ sung men vi sinh, chẳng hạn như: ngừa tiêu chảy do kháng sinh, tiêu chảy cấp do nhiễm trùng, viêm ruột hoại tử sơ sinh… thì với một em bé bình thường, đại tiện phân tốt thì việc bổ sung men vi sinh là không cần thiết và càng không nên dùng trong thời gian dài. Bởi em bé đang bình thường về tiêu hóa tức là hệ sinh thái vi sinh vật đường ruột của trẻ đang cân bằng giữa nhóm có lợi và có hại, việc bổ sung vi sinh vật ngoại lai vào dù là loại có lợi đi chăng nữa thì chúng ta cũng đang vô tình làm mất đi sự cân bằng của hệ sinh thái đó.

Biếng ăn ở trẻ em có thể là bệnh lý, có thể là sinh lý, có thể sau bệnh, sau tiêm ngừa… Nhưng trong lâm sàng tôi thường gặp trẻ biếng ăn là nguyên nhân sinh lý, do bệnh hay sau bệnh thì cũng sẽ hết sau 2-3 tuần. Còn đại đa số trẻ em biếng ăn là do cách cho ăn sai lầm từ người lớn (ép trẻ ăn khi không muốn ăn, cho ăn thức ăn không phù hợp, bữa ăn đơn điệu…). Chừng nào người lớn chưa thay đổi thái độ và cách hành xử trong vấn đề cho con ăn thì biếng ăn sẽ không thể hết được.

Do đó, cách chữa biếng ăn cho trẻ phụ thuộc vào người chăm trẻ, bạn hãy đến trung tâm dinh dưỡng để được tư vấn tốt hơn về vấn đề làm sao cho bé của mình không bị lười ăn. Chúc bạn thành công!

BS. Trần Văn Công

Bác sĩ đội tuyển U23 Việt Nam chỉ cách sơ cứu do chấn thương khi chơi đá bóng

Công Phượng ghi bàn giúp U23 Việt Nam thẳng tiến vào tứ kết ASIAD 2018

Hồi phục sau chấn thương là điều cực kỳ quan trọng đối với các ngôi sao bóng đá. Đã từng có những đội bóng tại World Cup phải chia tay giải đấu bởi cầu thủ ngôi sao gặp chấn thương như trường hợp của Edison Cavani, đội tuyển Uruguay. Thiếu Cavani, dường như Uruguay đã thiếu đi sức mạnh của mình và để thua Pháp trong trận knock out loại trực tiếp. Còn trong kỳ ASIAD lần này, đội tuyển U23 Việt Nam với sức trẻ và kỹ thuật tốt đã cống hiến cho khán giả những pha bóng mãn nhãn. Để có thể giúp đội tuyển phòng thủ chắc chắn cùng với pha băng tốc độ ghi bàn, thể lực là một điều cực kỳ quan trọng, và đóng góp vào đó là sự cống hiến âm thầm của đội ngũ bác sĩ và nhân viên chăm sóc thể lực cho đội bóng đằng sau đó.

Chơi bóng đá cũng dễ gặp chấn thương như các môn thể thao khác

Hiện nay phong trào tập luyện và chơi đá bóng như một môn thể thao rèn luyện sức khỏe rất phổ biến đặc biệt trong giới trẻ. Tuy nhiên trong quá trình tập luyện, cũng không tránh khỏi các chấn thương khi va chạm, việc phát hiện và xử trí đúng các chấn thương khi chơi đá bóng không phải người tập nghiệp dư nào cũng biết….

Bác sĩ Nguyễn Trọng Thủy kiểm tra cho cầu thủ gặp chấn thương trong chơi thể thao. Ảnh: FB nhân vật

BSCKI Nguyễn Trọng Thủy, bác sĩ của Đội tuyển bóng đá Việt Nam chia sẻ với phóng viên Báo Sức khỏe &Đời sống, không có môn thể thao nào an toàn tuyệt đối với người tập nếu tập luyện không đúng cách cũng như không khởi động kỹ trước khi tập.

Nguyên nhân của những chấn thương do tập thể thao thường là chủ quan, không có ý thức đề phòng chấn thương, khởi động chưa đúng, chưa đủ, thậm chí kỹ thuật chơi chưa tốt cũng dẫn tới chấn thương, BS Thủy cho biết. Bên cạnh đó có một số nguyên nhân sức khỏe cũng khiến người tập dễ gặp chấn thương là do có bệnh không phù hợp với môn thể nào đó, hoặc do thiếu ngủ, dinh dưỡng hoặc thể lực không tốt, do thiếu điều kiện tập luyện như sân bãi, các dụng cụ bảo vệ, thậm chí là thời tiết cũng có thể là nguyên nhân dẫn tới chấn thương cho người chơi. …

Kết quả vòng 1/8 ASIAD 2018:U23 Palestine 0-1 U23 SyriaU23 Uzbekistan 2-0 U23 Hong KongU23 Iran 0-2 U23 Hàn QuốcU23 Việt Nam 1-0 U23 BahrainU23 Indonesia 2-2 (pen 3-4) U23 UAEU23 Trung Quốc 3-4 U23 Saudi ArabiaU23 Bangladesh 1-3 U23 Triều TiênU23 Malaysia 0-1 U23 Nhật Bản

Chấn thương do đá bóng xử lý thế nào?

Nhiều người đá bóng nghiệp dư, khi gặp chấn thương ở sân bóng có những xử trí sai lầm như xoa dầu nóng để giảm sưng đau, hoặc cố chịu đau để chơi hết hiệp, có người không có hiểu biết mà tự nắn chỉnh khớp khi nghi ngờ trật khớp…. BS Thủy cho rằng, đây là những hiểu biết và xử trí sai lầm của người chơi thể thao nói chung. Tuy nhiên không phải chấn thương nào cũng tự ý xử lý được, có những chấn thương nếu không đưa người bị nạn vào các cơ sở y tế đúng cách sẽ làm trầm trọng tổn thương.

Bảo vệ sức khỏe cho các cầu thủ là công việc đòi hỏi bác sĩ phải có nhiều kỹ năng. ảnh FB nhân vật

Theo BS Thủy, chấn thương phân ra 3 loại là chấn thương phần mềm, chấn thương khớp và chấn thương xương. Hai loại chấn thương sau cần phải cố định và đưa người bệnh đến cơ sở y tế để chữa trị đúng cách. Riêng về chấn thương phần mềm, BS Thủy cho biết, có hơn 80% các chấn thương thể thao thuộc về phần mềm, đó là tổn thương gân, cơ, dây chằng với nhiều mức độ khác nhau, có thể do va chạm trực tiếp hoặc bị kéo căng quá mức, vặn xoắn, co rút đột ngột …

BS Thủy cho hay, chấn thương phần mềm được phân loại từ độ 1 đến độ 3, thường là giãn rất nhẹ gân, cơ dây chằng, trong đó độ 1 thường có cảm giác đau thoáng qua, không ảnh hưởng sinh hoạt bình thường, vùng bị thương chưa quá sưng, bầm hoặc chỉ đau nhiều khi vận động nặng, chịu lực lớn, số lượng bó sợi bị rách 25%, có thể tự khỏi sau 1 – 2 tuần được xử trí đúng theo phác đồ R.I.C.E; Chấn thương độ 2 gồm sưng bầm tụ máu tại chỗ, đau nhiều, giới hạn một phần vận động của cơ, mất vững một phần của khớp, mức độ này dây chằng (gân, cơ) bị rách từ 25% đến 75% số sợi. Chấn thương độ 3 các dấu hiệu tăng lên nhiều, khớp sưng nhiều, mất vững và có thể bị bán trật hoặc trật khớp hoàn toàn . Đứt hoàn toàn số sợi gân - cơ hay dây chằng.

Các cầu thủ chuyên nghiệp và nghiệp dư đều có nguy cơ gặp chấn thương trong khi đá bóng.

Không chườm nóng với các chấn thương phần mềm

BS Thủy khuyên, với chấn thương phần mềm, cần tuân thủ công thức R.I.C.E, cụ thể là R: rest – nghỉ ngơi; I: ice – chườm lạnh; C – compression- băng ép; E: elevation - treo cao tay hoặc kê cao chân bị thương. Với chấn thương độ 2,3, có thể xử lý bước đầu theo công thức R.I.C.E, nhưng sau đó nhất thiết phải đưa người bệnh vào cơ sở y tế để các bác sĩ xử trí tiếp.

Khi chườm mát, có thể cho một vài viên đá lạnh vào túi nilon - cho nước rồi buộc kín lại, hay đá nhuyễn hoặc nước đá trong túi nilon, bọc khăn vải ướt bên ngoài, chườm lên vùng tổn thương. Nhiệt độ chườm mát tốt nhất là từ 6-12 độ sẽ giúp giảm chảy máu, giảm sưng, giảm đau, giảm viêm, thời gian từ 15 đến 30 phút, không nên chườm quá lạnh và quá lâu có thể gây bỏng lạnh và thiểu dưỡng vùng bị tổn thương, có thể phối hợp với băng ép. Chườm lạnh được thực hiện trong 24-72 giờ đầu sau chấn thương, chườm là 15 đến 30 phút , rồi nghỉ 1 đến 2 tiếng tùy vị trí , mức độ tổn thương và thể trạng , cơ địa mỗi người, có thể lặp lại nhiều lần trong ngày. BS Thủy còn lưu ý, trong 48 giờ đầu không được chườm nóng, xoa bóp các loại dầu nóng, kéo nắn chi hay vùng bị tổn thương vì dễ làm tổn thương dập – rách – đứt – tăng lên, chảy máu và sưng nề nhiều hơn, hiện tượng viêm tăng lên và kéo dài làm mô bị tổn thương lâu lành hoặc lành với sẹo xấu. Đặc biệt đối với dây chằng, việc xoa bóp với các loại dầu có thể kích thích hình thành các mô sợi (Fibro) thế cho các sợi collagen dẫn đến giảm tính đàn hồi, chắc của dây chằng, sau khi lành dây chằng trở nên yếu và dễ bị tổn thương lại. Trong chấn thương do chơi thể thao việc xử trí ban đầu là tối quan trọng và vô cùng cần thiết để giảm triệu chứng , giúp tổn thương ổn định , góp phần làm tổn thương đó lành nhanh và tốt nhất, BS Thủy chia sẻ.

Hải Yến

Cách nào cải thiện chiều cao?

Cách nào cải thiện chiều cao?

nguyentuananh0602001@gmail.com

Sự phát triển chiều cao lúc trưởng thành của con người phụ thuộc nhiều yếu tố. Nghiên cứu cho thấy 40% mang tính di truyền, 60% phụ thuộc yếu tố môi trường dinh dưỡng và tập luyện. Chiều cao của thế hệ con sẽ là trung bình cộng chiều cao của bố mẹ cộng trừ 10cm. Có nghĩa nếu được chăm sóc tốt, thế hệ con có thể cao hơn bố mẹ 10cm. Chiều cao lúc trưởng thành phụ thuộc vào sự phát triển khi còn là bào thai, đặc biệt trong 3 năm đầu đời, nếu chăm sóc tốt, trẻ sẽ có chiều cao tối ưu lúc trưởng thành. Chiều cao sẽ còn phát triển tiếp đến 25 tuổi đối với nam và 22 tuổi đối với nữ. Hơn nữa, quanh tuổi dậy thì, chiều cao phát triển nhanh sau đó chững lại. Vì vậy, nếu cháu dậy thì đúng quy luật tức nam giới dậy thì ở tuổi 14-15 thì cháu sẽ còn cao nữa. Nhưng nếu dậy thì sớm dưới tuổi này thì chiều cao lúc trưởng thành sẽ hạn chế hơn so với những bạn dậy thì đúng tuổi. Năm nay cháu học lớp 11 tức mới 17 tuổi, như vậy sẽ còn mấy năm nữa để phát triển chiều cao nên cháu cứ yên tâm. Tuy nhiên, cháu cần chú ý những điều sau: Thực hiện chế độ ăn cân bằng hợp lý, ưu tiên các thực phẩm giàu canxi như trứng, sữa, thịt, cá...); Hằng ngày, cần dành thời gian hoạt động ngoài trời vì ánh sáng mặt trời giúp da tổng hợp vitamin D từ đó giúp cơ thể hấp thu canxi, phốt-pho vào xương để phát triển chiều cao. Ngoài ra, nên tập các môn thể thao như bơi lội, bóng rổ... và cuối cùng không nên thức quá khuya vì đêm ngủ não sẽ sản xuất hormon tăng trưởng.

BS. Đinh Thị Thanh

Phòng ngừa viêm tiểu phế quản ở trẻ em

Tác nhân gây viêm tiểu phế quản là virut hợp bào hô hấp (RSV), thường gieo bệnh cho trẻ vào mùa đông và đầu xuân. Biểu hiện, trẻ ho, thở khò khè, ăn uống kém. Viêm tiểu phế quản có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm là suy hô hấp, viêm phổi, xẹp phổi, viêm tai giữa... nếu không được điều trị kịp thời.

Nguyên nhân gây bệnh viêm tiểu phế quản ở trẻ em

Tác nhân làm cho trẻ bị viêm tiểu phế quản thường là do các virut như virut hợp bào hô hấp (VRS), có khả năng lây lan rất mạnh nên bệnh có nguy cơ xảy ra thành dịch, virut này chiếm 30 - 50% các trường hợp mắc bệnh. Virut cúm và á cúm cũng gây bệnh cho khoảng 25% số trẻ bị viêm tiểu phế quản. Ngoài ra phải kể đến Adenovirus với 10% số mắc. Viêm tiểu phế quản là bệnh viêm nhiễm cấp tính của các phế quản kích thước nhỏ, có đường kính dưới 2mm hay còn gọi là các tiểu phế quản.

Khi mắc bệnh, các phế quản nhỏ này bị viêm, sưng phù, tiết nhiều dịch làm cho đường thở của trẻ bị chít hẹp, thậm chí tắc nghẽn. Vì vậy, trẻ sẽ bị khò khè, khó thở và nặng hơn nữa trẻ sẽ bị thiếu ôxy để thở. Trẻ lớn hơn, người lớn cũng có thể bị nhiễm VRS nhưng biểu hiện thường nhẹ, chỉ như cảm ho thông thường. Khi trẻ sống trong vùng có dịch cúm hay viêm đường hô hấp trên do virut hợp bào thì tỷ lệ bị lây nhiễm rất cao do sức đề kháng ở cơ thể trẻ còn quá yếu, nhất là trẻ tuổi bú mẹ mà không được bú đầy đủ sữa mẹ. Những trẻ từng bị ốm do nhiễm virut trước đó như viêm mũi họng, viêm amydal, viêm VA... đều có nguy cơ dễ nhiễm bệnh nếu không được chăm sóc tốt. Các trường hợp trẻ bị bệnh tim bẩm sinh, sống trong môi trường hút thuốc lá thụ động, trẻ mắc bệnh phổi hay bị suy giảm miễn dịch đều có nguy cơ cao mắc phải viêm tiểu phế quản.

Viêm tiểu phế quản (do virut hợp bào hô hấp (RSV) rất hay gặp ở trẻ em trong mùa đông và đầu xuân, chiếm khoảng 40% bệnh nhi nhập viện tại các khoa nhi.

Những biểu hiện khi trẻ bị viêm tiểu phế quản

Triệu chứng ban đầu thường thấy nhất là tình trạng trẻ ho, chảy nước mũi, sốt nhẹ. Sau từ 3-5 ngày thì trẻ ho ngày một nhiều, xuất hiện thở khó, thở rít, nhịp thở nhanh, sốt liên tục, xuất hiện các cơn co kéo hô hấp, lồng ngực bị rút lõm, trẻ thở rên. Tiếng thở có thể nghe ran rít, ran ngáy, thông khí phổi kém, khó thở... lúc này cần đưa ngay trẻ đến các chuyên khoa hô hấp để được điều trị đúng.

Tất cả các trường hợp viêm tiểu phế quản ở trẻ nếu không được chẩn đoán bệnh và điều trị tốt sẽ dẫn đến những biến chứng nguy hiểm như: rối loạn chức năng hô hấp, xuất hiện từng cơn khó thở ra tái phát, viêm tiểu phế quản lan tỏa. Nghiêm trọng hơn sẽ làm trẻ bị suy hô hấp cấp, tràn khí màng phổi, viêm phổi - trung thất, xẹp phổi và thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Đề cập đến mối liên quan của viêm tiểu phế quản với bệnh hen. Nhiều nghiên cứu cho rằng, sau khi bị viêm tiểu phế quản, đường thở của trẻ sẽ trở nên nhạy cảm hơn và khoảng 1/3 trẻ bị viêm tiểu phế quản có thể diễn tiến thành hen sau này.

Điều trị bệnh viêm tiểu phế quản cho trẻ

Thuốc kháng sinh không có tác dụng trong trường hợp này, vì viêm tiểu phế quản do virut gây nên. Phần lớn trẻ nhỏ viêm tiểu phế quản RSV nhẹ thường bị ho và khò khè một chút, trẻ vẫn ăn uống tốt thì trong một vài ngày, bệnh sẽ tự khỏi. Trong trường hợp nghiêm trọng, trẻ có biểu hiện thở khò khè và ra nhiều dịch nhầy, ngăn cản không khí tới các phế nang của phổi. Lúc này, bạn cần đưa trẻ tới bệnh viện.

Đối với các thể thông thường, không có suy hô hấp thì ngay khi vào viện các bác sĩ sẽ tiến hành hút thông đường thở, giải phóng các chất xuất tiết. Dùng khí dung ẩm thuốc giãn phế quản kết hợp với lý liệu pháp hô hấp, vỗ rung, hút đờm. Những trẻ sốt cao, nôn, thở nhanh được bù đủ nước và điện giải theo nhu cầu cơ thể trẻ.

Đối với những trường hợp nặng có suy hô hấp thì trẻ được sử dụng liệu pháp oxygen, hút thông đường hô hấp trên, dùng thuốc giãn phế quản đường khí dung ẩm, truyền nước, điện giải... Nếu những biện pháp trên không cải thiện tình trạng suy hô hấp, trẻ sẽ được tiến hành đặt nội khí quản và các biện pháp hô hấp hỗ trợ khác.

Lời khuyên của thầy thuốcNếu trẻ có dấu hiệu bệnh nhẹ, không có biến chứng, không có yếu tố nguy cơ thì có thể được chăm sóc tại nhà. Chú ý mặc quần áo thích hợp cho trẻ không để trẻ bị lạnh hay ra quá nhiều mồ hôi. Môi trường trong lành, không cho trẻ tiếp xúc với khói thuốc lá vì có thể làm bệnh của trẻ nặng hơn và dễ bị hen sau này. Rửa tay thường xuyên khi chăm sóc trẻ vì virut gây bệnh lây lan chủ yếu qua việc tiếp xúc trực tiếp. Cần làm thông thoáng mũi cho trẻ để giúp trẻ dễ thở hơn. Có thể nhỏ mũi với 2-3 giọt nước muối sinh lý sau đó làm sạch mũi cho trẻ. Khi trẻ có dấu hiệu nặng như khó thở, ăn uống kém, tím tái, có biến chứng cần cho trẻ nhập viện để điều trị. Cần cân nhắc cẩn thận trước khi sử dụng kháng sinh. Chỉ sử dụng kháng sinh khi có biểu hiện viêm nhiễm thứ phát. Cho trẻ dùng thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ điều trị.Điều cần lưu ý là bạn cần cho trẻ uống thuốc đủ liều và tái khám đúng hẹn của bác sĩ để được tư vấn và điều trị hiệu quả; không nên tự ý ngừng thuốc hay thay đổi thuốc khi chưa có ý kiến của bác sĩ điều trị.

BS. Lê Thị Hương

Cận thị và các phương pháp điều trị

Nhưng qua nghiên cứu, người ta nhận thấy những công việc cần sự điều tiết của mắt trong thời gian dài (nhìn những con số nhỏ, đọc sách, tiếp xúc màn hình máy tính...) trong điều kiện không đủ ánh sáng có liên quan tới cận thị.

Ngoài ra, những yếu tố di truyền, dinh dưỡng, trẻ sinh thiếu tháng cũng có liên quan tới bệnh này. Vì vậy, việc hiểu biết và lựa chọn các phương pháp khắc phục và điều trị là rất cần thiết.

Nguyên nhân và nguy cơ

Cận thị là do sự mất cân đối giữa chiều dài nhãn cầu và lực quang học của mắt khiến cho ảnh hội tụ trước võng mạc. Có rất nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân trực tiếp: cận thị do chiều dài nhãn cầu lớn hơn bình thường, cận thị do giác mạc hay thủy tinh thể gia tăng độ cong, cận thị do chỉ số khúc xạ: sự tăng giảm chỉ số khúc xạ thủy tinh thể gây cận thị.

Các yếu tố thuận lợi bao gồm yếu tố di truyền chỉ đóng vai trò quan trọng trong bệnh cận thị nhưng trong tật cận thị chỉ đóng vai trò thứ yếu. Yếu tố tư thế cơ thể bao gồm làm việc hay đọc sách với khoảng cách gần thời gian lâu dài.

Cận thị và các phương pháp điều trị

Triệu chứng và tiến triển của bệnh

Khi bị cận thì tình trạng nhìn mờ sẽ xảy ra, nhìn gần rõ. Bệnh nhân cận thường nheo mắt để nhìn rõ, người cận thị thường nheo mi mắt lại khi nhìn một vật. Ở một số trường hợp mỏi mắt: khô cộm mắt, nặng mi mắt, hoa mắt.

Cận thị đơn thuần tăng dần cho đến 25 tuổi. Trong khoảng thời gian dậy thì, cơ thể tăng trưởng mạnh nên độ cận thị tăng nhanh hơn. Sau 25 tuổi tật cận thị ổn định.Đôi khi tuổi trưởng thành tật cận thị có thể thay đổi chút ít do ảnh hưởng của một số bệnh lý.

Có nên phẫu thuật chữa cận thị?

Với sự tiến bộ nhanh vượt bậc của khoa học, ngày nay chúng ta có 2 cách chọn lựa chính để điều chỉnh sự sai lệch khúc xạ của mắt hoặc bằng kính đeo hoặc bằng phẫu thuật.

Ưu điểm của điều chỉnh bằng kính: đây là kỹ thuật đơn giản. Không chọn lựa bệnh nhân, điều chỉnh độ sai lệch chính xác, tiên đoán được.

Cận thị và các phương pháp điều trịHiện nay phẫu thuật LASIK khá phổ biến và đem lại kết quả rất khả quan

Ưu điểm của phẫu thuật khúc xạ: phương pháp phẫu thuật hiện nay được xem là vấn đề thời sự trong ngành khúc xạ. Hầu hết các bệnh nhân đều rất hài lòng sau một phẫu thuật tốt đẹp. Tuy nhiên, trong phẫu thuật khúc xạ có sự thay đổi đặc tính cơ sinh học của giác mạc, sự lành vết thương của giác mạc… là điều cần cân nhắc khi thực hiện các phẫu thuật này.

Phẫu thuật lấy thủy tinh thể trong:

Phẫu thuật lấy thủy tinh thể trong là một phẫu thuật lấy đi thủy tinh thể còn trong suốt, có hay không có đặt kính nội nhãn. Dựa trên lý thuyết cận thị là do hoặc chiều dài nhãn cầu lớn hơn công suất hội tụ của mắt hoặc công suất hội tụ của mắt gồm giác mạc và thủy tinh thể lớn hơn do với chiều dài nhãn cầu. Do vậy, chỉ cần lấy đi thủy tinh thể là có thể điều trị tật cận thị.

Chỉ định: phẫu thuật dùng cho những người tật khúc xạ cao trên 8 diopters mà không dễ dàng xử lý bằng nhữngphương pháp điều trị khúc xạ khác chẳng hạn như Lasik, đeo kính. Không phẫu thuật đối với những bệnh nhân có bệnh lý võng mạc. Ở những bệnh nhân cận thị nặng mà có kèm theo bệnh lý võng mạc sẽ có nguy cơ bong võng mạc sau phẫu thuật lấy thủy tinh thể. Đây là phương pháp tương đối dễ thực hiện, cải thiện thị lực tốt. Độ ổn định tốt so với các phương pháp phẫu thuật khúc xạ khác.Tương đối chính xác.

Phẫu thuật bào mỏng giác mạc bằng Laser Excimer (LASIK)

Hiện nay phẫu thuật LASIK khá phổ biến và đem lại kết quả rất khả quan cho những người cận thị. Dựa trên nguyên lý cận thị là do hoặc chiều dài nhãn cầu lớn hơn công suất hội tụ của mắt hoặc công suất hội tụ của mắt gồm giác mạc và thủy tinh thể lớn hơn do với chiều dài nhãn cầu. Do vậy, chỉ cần làm mỏng bớt độ cong giác mạc là có thể điều trị tật cận thị. Phương pháp này được áp dụng với bệnh nhân cận thị trên 25 tuổi, và độ cận là +-1 Dioptre ≤ Cận thị ≤ -12 Dioptre. Đối với những người khúc xạ mắt chưa ổn định. Một số bệnh lý mắt như viêm kết mạc, viêm giác mạc… Bệnh nhân không hợp tác tốt như nằm yên, không lắc đầu… không được áp dụng phương pháp này.

Phương pháp này có ưu điểm: phẫu thuật nhanh gọn trong vòng 10 phút, dễ thực hiện, kỹ thuật đơn giản. Không đau nhức, hậu phẫu nhẹ nhàng, dễ chăm sóc, ít gây khó chịu cho bệnh nhân. Phục hồi thị lực tốt.

Kiêng cữ và cách ngăn chặn sự tiến triển của bệnh

Đối với người có tật khúc xạ thì cần ăn uống với chế độ đầy đủ dinh dưỡng, nên ăn nhiều rau xanh (rau có màu lục đậm, củ màu đỏ cam…), trái cây tươi, cá… Chỉ tránh dùng các thực phẩm đã từng gây dị ứng cho bản thân.

Để tránh sự tiến triển của tật khúc xạ:

- Nên đi khám để được phát hiện sớm các loại tật khúc xạ.

- Khi đã xác định có tật khúc xạ nên đeo kính đúng độ, tái khám đúng định kỳ để theo dõi tật khúc xạ.

- Có chế độ học tập, làm việc đúng. Đặc biệt khi phải nhìn gần, đọc sách, báo, vi tính nhiều phải có thời gian để mắt nghỉ ngơi (mỗi 15 - 20 phút phải nhắm mắt để cho mắt nghỉ ngơi, không được để đến khi mắt mệt, mỏi, mờ mới nghỉ ngơi là không nên, sau khi nhắm mắt nghỉ nên nhìn rõ vào một vật ở xa cách mình 4 - 5m để cho mắt thư giãn).

- Học tập, làm việc trong môi trường đầy đủ ánh sáng, để mắt đúng tầm nhìn.

- Có chế độ ăn uống đầy đủ dinh dưỡng, giàu vitamin và khoáng chất.

BS. NGUYỄN THẾ ANH

Dị ứng có gây tăng men gan?

Đặng Văn Trọng (dangtrong@gmail.com)

Theo thư em viết thì không biết em có thừa cân không, vì những người gan nhiễm mỡ thường là người béo hoặc uống nhiều bia rượu (còn gọi bụng phệ - bụng bia). Với người thừa cân, xét nghiệm triglycerit cao tức có tăng mỡ máu thì siêu âm gan sẽ thấy hình ảnh gan nhiễm mỡ. Nếu gan nhiễm mỡ nhẹ, chức năng gan bình thường thì không có gì đáng lo, chỉ cần thực hiện một chế độ ăn uống cân đối, nhiều rau quả và tập luyện thể dục thể thao thường xuyên thì sau 3-6 tháng các chỉ số sẽ ổn định. Nếu gan nhiễm mỡ trên 40% thì cần điều trị thuốc kết hợp chế độ ăn uống và tập luyện. Trường hợp của em do sử dụng một số thuốc nên men gan có thay đổi là đúng, nếu ngừng thuốc thì men gan sẽ trở về bình thường. Tuy nhiên, không biết em có đi khám và dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa nội hoặc da liễu, hay tự chữa dị ứng. Vì vậy, lời khuyên là em nên đi khám và dùng thuốc theo chỉ định để tránh những biến chứng đáng tiếc. Vì một số thuốc có thể độc với gan, do đó gây tăng men gan. Còn bệnh trào ngược dạ dày, em nên khắc phục bằng cách không nên nằm ngay sau ăn, không nên ăn quá no, không uống nhiều bia rượu. Nếu thừa cân, cần thực hiện chế độ giảm cân. Định kỳ khám sức khỏe 1năm /lần.

BS. Trần Quang Nhật

Những “thủ phạm” giấu mặt gây ung thư phổi

Khi được chẩn đoán mắc bệnh ung thư phổi, nhiều bệnh nhân thường tự hỏi rằng tôi không hút thuốc lá, vậy tại sao vẫn mắc bệnh. Thuốc lá được coi là “thủ phạm” hàng đầu gây ung thư phổi, nhưng còn một loạt các yếu tố nguy cơ khác cũng là những nguyên nhân dẫn đến căn bệnh này. Nó âm thầm hủy hoại sức khỏe của con người mà người bệnh không hề hay biết, chỉ đến khi có những dấu hiệu khởi phát như sút cân, mệt mỏi, ho, đau ngực… kéo dài, lúc đó bệnh đã qua giai đoạn khởi phát và bắt đầu trở nặng.

Các nguyên nhân có thể dẫn đến ung thư phổi dưới đây để bạn tham khảo. Bạn cần sẵn sàng đi khám bệnh, chẩn đoán sớm nếu phải sống và làm việc trong môi trường ô nhiễm. Khi đó bạn là người có yếu tố nguy cơ cao mắc bệnh, cần chia sẻ với bác sĩ để phát hiện và điều trị có hiệu quả cao.

Hút thuốc lá

Hút thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư phổi. Theo WHO, hút thuốc lá là nguyên nhân gây tử vong ở 20% các trường hợp ung thư, và 70% các trường hợp tử vong vì ung thư phổi trên toàn thế giới. Như vậy có thể nói, lối sống thiếu lành mạnh, không khoa học góp phần làm trầm trọng thêm căn bệnh ung thư phổi ở người. Không bao giờ là quá muộn để thay đổi lối sống. Theo nghiên cứu mới được công bố, nếu một người ngừng hút thuốc trên 10 năm, nguy cơ ung thư phổi sẽ giảm 30-50%.

Các nghiên cứu đã chứng minh cơ chế gây ung thư phổi từ thuốc lá. Khói thuốc lá chứa khoảng 4.000 chất, trong đó có khoảng 40 chất gây ung thư như nicotin, oxide carbon, benzene, formaldehyde, ammonia, acetone, arsenic, hydrogen cyanide... Khi khói thuốc lá xâm nhập vào đường thở, xuống phổi, chúng làm lông mao cấu thành nên phổi bị tê liệt, thậm chí bị phá hủy, khiến cho phổi không thể làm việc, tống các chất độc hại của khói thuốc khỏi cơ thể. Vì thế người nghiện thuốc lá thường bị ho, dễ viêm đường hô hấp, trong đó có cả viêm phổi. Người hút thuốc chức năng phổi hoạt động kém hơn người bình thường từ 2-4 lần, nếu nghiện thuốc trước năm 15 tuổi có nguy cơ ung thư gấp 4 lần so với người hút thuốc sau năm 25 tuổi.

Như đã nói ở trên, khi hút thuốc, các lông mao trong phổi bị tê liệt, làm các chất độc hại từ khói thuốc lá bị đọng lại đường hô hấp, nhiều chất độc hại làm biến đổi các tế bào phổi bình thường, trở thành các tế bào gây ung thư. Hay một dạng tấn công phá hủy nhu mô phổi khác của thuốc lá là làm cho người hút thuốc bị viêm đường hô hấp, phổi kinh niên, chỗ viêm lâu ngày tiết ra các chất phá hủy nhu mô phổi gây tổn thương phổi….

Hút thuốc thụ động

Hút thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư phổi, nhưng nó không phải là yếu tố nguy cơ duy nhất. Hít phải khói thuốc lá một cách thụ động cũng làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh của bạn. Trong một nghiên cứu tại Mỹ kết luận, những người kết hôn với người nghiện thuốc hay trong gia đình có người nghiện thuốc lá có nguy cơ bị ung thư phổi cao hơn từ 20-30% so với người bình thường.

Cơ chế gây bệnh ung thư phổi đối với hút thuốc thụ động cũng không khác nhiều so với hút thuốc chủ động. Người hút thuốc thường hít vào phổi bằng luồng khói chính nhưng chỉ chiếm khoảng 20%, 80% các luồng khói còn lại từ thuốc lá gọi là luồng khói phụ, giữa các lần hít thuốc, ra môi trường xung quanh. Luồng khói phụ độc hại gấp nhiều lần luồng khói chính, đây chính là nguyên nhân gây ung thư phổi cho những người hít phải khói thuốc lá thụ động hay trong gia đình có người hút thuốc.

Ung thư phổi do phơi nhiễm

Bên cạnh khói thuốc lá, một số công việc có thể làm gia tăng nguy cơ ung thư phổi. Đó là những người phải làm việc trong môi trường có chứa uranium, thạch tín và các hóa chất khác. Chẳng hạn như amiăng, đây là loại chất độc hại trong sản xuất tấm lợp ở Việt Nam được nhiều quốc gia châu u cấm sử dụng do chúng gây bệnh ung thư phổi. Theo các chuyên gia y tế từ Đại học John Hopskin, việc sử dụng amiăng trong sản xuất độc hại, nó có thể gây bệnh khi người bệnh tiếp xúc 20-30 năm trước đó. Amiăng đã bị cấm sử dụng ở 28 quốc gia châu u nhưng hiện vẫn được nhiều nước sản xuất và sử dụng trong đó có Việt Nam.

Khí radon gây ung thư phổi

Một trong những loại khí gây ra căn bệnh nghiêm trọng này mà ít được để ý đến là khí radon, đây là một chất khí phóng xạ tự nhiên ở trong lòng đất, phân bố không đều trên bề mặt trái đất. Loại khí này không thể nhìn hay ngửi thấy mà chỉ có thể phát hiện được bằng các dụng cụ đo đạc chuyên nghiệp. Một đặc điểm dễ nhận ra của loại khí này là giải phóng khi mặt đất bị nứt. Khi nền nhà có vết nứt hay tạo thành các lỗ tiếp xúc với đất, chính là môi trường thuận lợi để khí radon thoát ra. Theo nghiên cứu khí radon là nguyên nhân thứ 2 dẫn đến ung thư phổi ở Mỹ, có khoảng 12% các ca tử vong vì ung thư phổi có liên quan đến tiếp xúc với khí radon.

Ô nhiễm không khí là nguyên nhân gây ra ung thư phổi

Theo WHO, mỗi năm có khoảng 223.000 ca tử vong vì ung thư phổi do ô nhiễm không khí. Mặc dù cơ quan đứng đầu về y tế thế giới nhận định, các trường hợp mắc ung thư phổi do ô nhiễm không khí ít hơn so với hút thuốc lá, nhưng nó cũng chiếm một tỷ lệ cao. Những ô nhiễm từ xe hơi, nhà máy, do cháy rừng, các điều kiện tự nhiên … thường sản sinh ra khói gây ô nhiễm như nitrogen oxide, hay các bụi trong không khí… Chúng gây ra các bệnh bụi phổi hay ung thư phổi.

Các yếu tố nguy cơ khác

Còn rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến bệnh ung thư phổi như tiền sử gia đình có người ung thư phổi, nhất là những người thuộc quan hệ cận huyết; sử dụng nguồn nước có nhiễm asen…. Hiện nay còn rất nhiều vấn đề liên quan đến căn bệnh ung thư phổi mà khoa học đang đi tìm câu trả lời như trong nhóm những người không hút thuốc, tỷ lệ phụ nữ mắc ung thư phổi cao hơn so với nam giới hay ở ung thư tuyến- một loại của bệnh ung thư phổi thường xảy ra ở người không hút thuốc….

Hải Yến

(theo WebMD)

Nguy cơ khi nước vào tai

Lê Mạnh Tuấn (Hà Nội)

Khi bơi ngụp lặn trong môi trường nước, dù cấu tạo của tai không dễ dàng cho nước vào tai nhưng đôi khi nước vẫn vào trong tai. Thông thường, nước sẽ tự chảy ra ngoài, nhưng đôi khi nước đọng lại khiến tai bị ẩm ướt, tạo điều kiện cho vi khuẩn và nấm phát triển, dẫn đến viêm. Phổ biến nhất là viêm tai ngoài. Viêm tai ngoài còn do dùng tăm bông ngoáy tai không đúng cách gây xây xước ống tai ngoài. Hoặc do tai có nhiều ráy tai, khi nước vào bị ẩm ướt cũng dễ gây viêm. Nếu cháu thấy có các hiện tượng sau thì phải đến bác sĩ khám và điều trị ngay: Đỏ da ống tai ngoài; ngứa trong tai; Đau tai, đặc biệt khi đụng vùng dái tai, đau có thể lan đến vùng cổ, mặt, hoặc vùng đầu; Chảy dịch tai; Phù nề tuyến vùng cổ hoặc phù nề quanh tai; sưng nề vùng ống tai ngoài; Nghe kém; Cảm giác nặng trong tai; Sốt.

BS. Hoàng Tùng

Có nên sử dụng men tiêu hóa cho trẻ bị tiêu chảy?

Bé nhà em năm nay 2 tháng tuổi, mấy tuần nay cháu hay bị đau bụng, có biểu hiện rối loạn tiêu hóa. Có người mách em mua men tiêu hóa cho bé uống nhưng em vẫn băn khoăn. Vậy xin bác sĩ tư vấn giúp.

Trần Thị Hiền (Tuyên Quang)

Có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy, song phần lớn là do trẻ bị nhiễm virut, vi khuẩn, ký sinh trùng, dị ứng thức ăn; hoặc do sử dụng thuốc kháng sinh nên đã diệt cả loại vi khuẩn có lợi trong ruột, dẫn đến việc trẻ bị tiêu chảy.

Trường hợp của con bạn, do cháu còn nhỏ, lại bị rối loạn tiêu hóa đã mấy tuần. Vậy, bạn nên cho cháu đi khám chuyên khoa tiêu hóa ngay để tìm nguyên nhân gây bệnh. Từ đó, các bác sĩ sẽ có phương pháp điều trị phù hợp cho con bạn.

Bạn không nên tự ý điều trị cho con, dù là bằng bài thuốc dân gian, hay thuốc kháng sinh, vì việc tự điều trị rất nguy hiểm, không những làm tổn thương thêm đường ruột còn rất non nớt của trẻ, mà còn làm bệnh nặng thêm, thậm chí nguy hại đến tính mạng của trẻ nữa.

Men tiêu hóa (dùng để cải thiện sự cân bằng của hệ vi khuẩn ruột) và men vi sinh (giúp cơ thể lấy lại sức trong những giai đoạn còn yếu ớt và chưa đủ sức tự mình tiêu hóa thức ăn) tuy là các sản phẩm có lợi cho cơ thể, nhưng việc dùng thế nào, dùng trong bao lâu đều phải có chỉ định của bác sĩ điều trị.

Cha mẹ cũng không nên cho trẻ dưới 6 tháng tuổi uống men tiêu hóa vì ở độ tuổi này hệ tiêu hóa của trẻ chưa ổn định dễ dẫn đến tiêu chảy nếu dùng không đúng cách, gây ảnh hưởng đến đường tiêu hóa của trẻ về sau.

Bác sĩ Hương Trầm